Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Tự truyện: Cỏ Hát (Phần XIII)

TLP’s Story (Phần XIII)

Mặc dù không đi buôn bán xa nhà nữa, nhưng tôi với mẹ cũng ít có dịp gặp nhau. Sáng, mẹ chuẩn bị “đồ nghề”, cọc cạch đạp xe ra chợ đón lấy hàng khi tôi còn đang ngon giấc. Chiều, thường hơn 6h tôi đã chui vô mùng ngủ, hơn 7h mẹ mới về đến nhà. Ngày ngày, về qua từng con phố nhộn nhịp người xe – quần là áo lụa, tôi bắt đầu biết mình nghèo, biết mẹ tôi vất vả hơn nhiều so với những người phụ nữ cùng độ tuổi. Cuộc sống bên ngoài cái xóm nhỏ của tôi không thanh bình và giản dị một chút nào, và con người bên-ngoài-xóm-tôi cũng thế. Nhưng tôi hài lòng với những gì mình có. Cuối năm lớp 6, tôi viết bài thơ đầu tiên dành cho mẹ (Đây là bài thơ duy nhất tôi viết về mẹ cho đến thời điểm này – 2008, bài thơ này cũng là bài thơ đầu tiên tôi gởi đăng báo mấy năm sau đó).
Mẹ tôi

Sáng con dậy, cửa khép hờ
Mẹ đi từ lúc tinh mơ mất rồi
Một mình! Con thấy đơn côi
Thương cho mẹ, cả một đời cần lao
Tóc xanh mưa nắng nhuộm màu
Vàng xơ như những hàng lau bên đường.
Đêm dài sâu mắt mẹ thương
Để cho xa mãi đoạn đường con đi
Đêm con mơ giấc xuân thì
Thì đêm mẹ lặng…Về - đi! Một mình!

Bài thơ này tôi viết có cường điệu một xíu. (Hihi…) Vì dù cực khổ là thế, nhưng mẹ tôi vẫn rất đẹp, mái tóc vàng quăn bồng bềnh tự nhiên, đôi mắt nâu to, hàng mi cong vút, nhìn mẹ, tôi liên tưởng đến một một cô gái Pháp trong phim truyện trên Tivi.

Mẹ thì đi làm từ sáng đến tối, ba tôi thì làm Phường đội trưởng, muốn đi lúc nào đi, muốn về lúc nào về. Vắng ngoại, không còn ai bảo vệ, ba càng đánh tôi nhiều hơn. Vui đánh, buồn đánh, không buồn không vui cũng đánh. Đánh mọi lúc mọi nơi mỗi khi nhìn thấy tôi. Thậm chí có khi đang ngồi ăn cơm, ba bỏ đũa nắm đầu tôi đấm đá tới tấp với một lý do cực kì đơn giản: “Nhìn mặt mày là tao thấy ghét!”. Những chén cơm chan nước mắt, những tấm áo mỏng ướt đầm, tôi chỉ biết khóc mà không hiểu sao mình lại khóc, cũng như không hiểu sao ba lại ghét tôi đến thế.

Ba tôi có tật hay tằng hắng khi đi đâu về đến ngõ. Bàn học của tôi đặt ngay cửa sổ trước nhà, mỗi khi đang ngồi học bài hay ngồi chơi mà nghe tiếng tằng hắng của ba, riết rồi hình thành thói quen, tự nhiên tôi phản xạ bằng cách chui tọt xuống gầm bàn, tim đập loạn xạ. Tôi sợ ba nhìn thấy tôi. Khi vô nhà, phát hiện tôi dưới gầm bàn, ba gọi giật: “Mày làm gì dưới đó!”, tôi lí nhí: “Con quét mạng nhện”. Những lúc ba ở nhà, tôi luôn kiếm một góc nào đó để chui vào, sao cho khuất tầm mắt của ba. Tôi sợ những cơn cuồng nộ lôi đình bất chợt mà tôi không bao giờ biết trước. Cũng từ lúc đó, tôi trở nên yếu tim và rất dễ giật mình. Có lúc đang chơi ngoài đường với lũ trẻ hàng xóm, nghe tiếng ba gọi giật từ nhà, là tôi tè cả ra quần. Cũng như lũ trẻ hàng xóm không còn xa lạ với cảnh tôi đang chơi U hơi hay nhảy dây ở nhà chúng, ba cầm một nắm cây Sậy chấp đôi sang quất túi bụi vào người tôi, quất tôi bò lăn bò lết về đến tận nhà với cái quần chèm nhẹp. Hàng xóm lắc đầu, nhưng chẳng ai dám nhảy vô can. Vì Phường đội trưởng ngày xưa là người có chức lớn nhất phường rồi. Những năm trước chỉ có ngoại là dám nằm vạ nhảy vô can. Còn bây giờ… chẳng còn ai cả.

Mẹ tình cờ phát hiện những lằn roi chằng chịt trên người tôi, do chúng không có thời gian lành lại. Mỗi lần như vậy, ba mẹ lại cãi nhau, và kết quả những lần như thế là ba đòi giết luôn cả mẹ. Ở Cà Mau, ngoài ngoại, mẹ không có lấy một người bà con, thân thích. Thế là mẹ quyết định gởi tôi ra Fangrang ở với Dì hai để đi học. Vì mẹ sợ một ngày không xa, tôi sẽ chết!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét